HAT blog : Nhật ký Tây Bắc

T.Đ.T : Lâu rồi, lên Suối Giàng, thấy cái xe biển Hà Nội chạy trước, đã ngờ là cùng đội lên với trẻ con chăng ( thành viên ” Cơm có thịt” thường quen tên nhau trên mạng, nhưng không biết mặt). Lên đến nơi quả thật đó là vợ chồng HAT. Có lần HAT  kể : HAT nói với vợ về chuyện sẽ tham gia đi lên vùng cao giúp trẻ con. Vợ hỏi : ” Đi thế thì mình có tốt lên không ?”. HAT im lặng. Còn sau đó thì cả nhà HAT trở thành các thành viên của ” Cơm có thịt” và ” Gánh Hàng Xén”.  

Bài viết này bạn HAT  viết về chuyến đi Bát Xát trước Tết. Những gì bạn HAT kể là bức tranh thường xuyên của các chuyến đi lên với các nhít vùng cao. Và tâm tư cũng chung: Điều duy nhất lý giải tại sao nhiều người  trước nay hầu như chưa lên các vùng xa xôi của Tây Bắc, nay lại bỏ bao công việc thiết thân của mình, không tiếc sức chuẩn bị và thực hiện các chuyến đi – đó là cảm giác mình là người cần thiết, là người có ích ở trên đó, đồng thời cảm giác mình có trách nhiệm phải làm gì đó cho những nơi nay đã hóa một phần tâm hồn mình.  

Điều cần nói thêm là sau chuyến đi HAT kể một tuần thì áo ấm , ủng mới do các nhóm chuẩn bị để gửi lên đã phủ hết các nơi  được nhắc trong Nhật ký này : Sàng Ma Sáo, Tiểu học Pa Cheo, Dền Thàng, Y Tý, Ngải Thầu…Và sau Tết, HAT đã leo xe khách lặn lội lên Mường Khương.

Sapa

 
 
Đối với tôi, đây là chuyến đi thật dài: lái xe hơn 850 km, trong 4 ngày, qua thị xã Lào Cai, Sapa, các điểm trường Mầm non ở các xã Pa Cheo, Sàng Ma Sáo, Dền Thàng, Y Tý, thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nhật ký chuyến đi, vốn đầy ắp sự kiện, hình ảnh và cảm xúc, vì thế khó lòng gói gọn trong khuôn khổ một entry. Tôi sẽ kể dần bạn nhé.
 
Sáng 02.01,chúng tôi khởi hành từ Hà Nội, nhằm hướng Sapa. Các xe khác chạy rất nhanh, tôi bị tụt hậu, do lần đầu tiên lái xe lên Tây Bắc chưa thạo (lần trước đi Suối Giàng quá gần, không tính), và tôi đi nhầm vào quốc lộ 32C đang sửa, đường xấu. Một lần lao vào cái rãnh đang đào mà chẳng có biển báo gì cả, xe xóc làm designer H ngồi hàng cuối nẩy bật lên, đập đầu vào nóc xe đau điếng. Hai bạn trẻ (14 và 18 tuổi) bắt đầu say xe, tôi đành phải đi chậm lại. Nhất là sau khi nhìn thấy chiếc xe công-tơ-nơ lật ngửa, chổng hai chục bánh lên trời, nằm chênh vênh bên bờ vực, tôi lái cẩn thận rón rén hơn. May sao xe tôi là lính mới, được ưu tiên không phải chở hàng, nên cũng thong thả.
 
 
Lên đến Sapa buổi chiều, sương mù dày đặc, cách hơn 10m đã không trông thấy gì. Lò dò vừa đi vừa hỏi đường về KS Công đoàn, vì có nhìn thấy nhà cửa gì đâu để định hướng.
 
 
Các xe trong đoàn đến trước, đã chạy đi Pa Cheo giao hàng rồi. Đến KS, nhận phòng xong, chúng tôi đi nhận bánh mì để hôm sau mang vào trường cho các bé. Trong khi chờ đợi các xe từ Pa Cheo quay về, chúng tôi có vài giờ để tham quan Sapa, cũng chỉ kịp đi dạo mấy con phố quanh khu vực Nhà Thờ Đá, ghé qua chợ. Ở Sapa lúc này chưa lạnh lắm. Nhưng về đêm, trời bắt đầu trở rét, có lẽ dưới 10 độ C.
 
 
 
 
Ăn tối xong, lại họp bàn công việc, và chia đồ ăn (bánh mì, sữa, pa-tê, giò chả, trứng gà) cho các điểm trường, giao cho các nhóm. Chúng tôi làm quen với nhau, vì phần đông tình nguyện viên trong đoàn chưa gặp nhau bao giờ, chỉ biết nhau qua các blog liên quan đến chương trình “Cơm có thịt”.
 
Nhà tôi 3 người làm một nhóm, được giao phụ trách phát quà tại điểm trường Mầm Non ở bản Tả Lèng, xã Pa Cheo.

Tả Lèng

 
Sáng 03.01, một cơn mưa rào xối xả làm chúng tôi phải xuất phát từ Sapa đi Pa Cheo chậm hơn dự kiến. Lại càng phục bạn Sống Thật Chậm đã tính toán chu đáo, đưa đồ vào Trường từ chiều hôm trước. Chờ mưa ngớt, chúng tôi lên đường. Nhờ mưa nên sương mù ít hơn, nhưng đường cũng trơn hơn. Cảnh vật trên đường đẹp mê hồn, song chúng tôi không có nhiều thời gian để dừng lại chụp hình.
 
 
 
Núi non trùng điệp trong mây
 
Đường đi Pa Cheo trải nhựa, khá tốt. Nhưng xe phải dừng cách điểm Trường chính – Kin Sáng Hồ – khoảng 1 km, vì người ta đang thi công đoạn đường qua ngầm. Đến nơi, đã có rất đông thầy cô giáo và dân bản đang đội mưa đứng chờ đón, đưa chúng tôi vào từng điểm trường bằng xe máy.
 
 
Bản Tả Lèng cách nơi ô tô dừng khoảng 5-6 km. Xe máy chở tôi vừa đi thì bị thủng lốp. Chờ một lúc, có người dân bản đi qua, tôi nhờ chở vào trường, đến chậm mất 10-15 phút. Đưa tiền, anh xe máy nhất định không lấy, tôi chỉ còn biết nói lời cảm ơn anh. Ba người nhóm chúng tôi, ngoài số thức ăn đã chuẩn bị của Gánh Hàng Xén, còn xách theo 3 túi quần áo trẻ em do một người bạn của tôi vừa đưa buổi tối trước hôm đi, mà tôi không kịp chuyển cho Gánh Hàng Xén, và quyết định mang theo để phát dự phòng.
 
Đến nơi, tôi bàng hoàng khi thấy trường lớp sơ sài đến thế.
Cổng trường dốc ngược, trời mưa đường trơn như đổ mỡ, tôi đi rón rén lắm mới không bị té. Còn sân trường – có lẽ không cần bình luận gì thêm – bạn cũng tự thấy cả rồi.
 
Leo lên đã khó, leo xuống còn khó hơn!

  

Sân trường của chúng em.
Chạy vội vào lớp Mầm Non, tôi không kịp để ý thấy mấy lớp Tiểu học bên cạnh, sau mới biết Trường Mầm Non “ở nhờ” Tiểu học. Hơn 20 đứa tý nhau 4-5 tuổi đã ngồi ngoan trong lớp đón khách. Lúc tôi bước vào, cô giáo nói: “Các con chào khách nào!”, chúng đồng thanh: “Chúng con chào cô ạ” :). Сó lẽ chúng chưa biết từ “chú” hay “bác”.
Lớp chúng cháu có bức tranh đẹp thế !

  

Sắp được chia áo, chia quà !
Ngoài cửa có rất đông người dân bản đến xem “cán bộ phát thịt phát áo” – họ cứ gọi người miền xuôi là cán bộ. Không biết con bé xinh xắn, khoảng 6 tuổi, chân đất địu em này có được đi học không nhỉ?
Tôi đã ứa nước mắt khi thấy đứa bé khoảng 2 tuổi đứng dựa cửa nhìn vào. Định bụng lát nữa rảnh tay sẽ chia quà cho nó, vậy mà lúc sau không biết nó chạy đi đằng nào mất rồi. Ân hận mãi. Lúc đó nhiệt độ ngoài trời ở Pa Cheo chỉ khoảng 7-8 độ C là cùng, mưa phùn lất phất. Tôi thử cởi áo khoác, chỉ mặc sơ mi và áo gi-lê len. Và có cảm giác rằng, nếu không vận động liên tục, chỉ cần ngồi hay đứng yên 10-15 phút, tôi có thể đông cứng như que kem.

Chúng tôi lần lượt phát áo len, áo khoác, rồi mũ len, truyện tranh, đồ chơi cho từng bé. Còn quần nỉ và tất thì nhờ các cô phát sau.

Khi mặc áo len cho một bé trai, tôi lại một lần nữa ứa nước mắt. Khi cởi cái áo khoác ngoài rách bươm của nó, tôi phát hiện ra hai ống tay áo ướt sũng, và bên trong áo khoác, có duy nhất cái áo thun cộc tay. Hay cánh tay thằng bé lạnh như đá, tím ngắt. Vội vàng mặc áo len, áo khoác mới cho nó và nhờ cô giáo phơi cái áo khoác cũ cho khô.
Sách của ai đẹp hơn?
Tôi có thể cam đoan với các bạn rằng những cuốn tranh màu xinh xắn, đính kèm cái nơ và bức thiệp nhỏ ghi tên từng bé, do mẹ con bạn Sống Thật Chậm kỳ công chuẩn bị, và các món đồ chơi mà nhiều người góp vào Gánh Hàng Xén, bất kể cũ hay mới, sẽ là những món quà quý giá nhất đối với các bé. Đơn giản bởi chúng, và có lẽ cả các anh chị, thậm chí cả cha mẹ chúng, chưa bao giờ có những thứ này trong đời.

  

Búp bê có xinh bằng mình không nhỉ?

  

Ở lớp Mầm Non lớn mới thêm một bé. Nên áo len áo khoác, đã đặt mua theo danh sách từ trước, không đủ phát cho nó. May sao có túi áo len mới do người bạn gửi để dự phòng, tôi chọn một cái to nhất, nó mặc vừa in, súng sính màu hồng, làm các bé bên cạnh ngoái sang ngắm.
Áo len hồng chen giữa
Xong lớp lớn, phát tiếp cho lớp bé. 15 đứa 3 tuổi học trong căn phòng 8-9 m2, là một nửa căn nhà lá này (nửa còn lại là phòng ở của giáo viên, giờ tạm dùng làm bếp nấu ăn cho trẻ Mầm Non). Chỉ giờ ăn, giờ ngủ chúng mới lên ở cùng phòng lớp lớn, trong ngôi nhà xây của Tiểu học.
Lớp học của chúng cháu
 
 
Bọn trẻ rất ngoan, chưa đến lượt cứ khoanh tay ngồi chờ. Được quà thì lễ phép cảm ơn, rồi quay sang bạn, cười toe toét khoe quà. Tôi đoán thế, vì chúng nói với nhau bằng tiếng H’Mông, thỉnh thoảng mới được các cô giáo dịch giúp cho vài câu. Chúng nó rất thích thú khi tôi chụp hình, rồi cho từng đứa nhìn thấy hình của mình trên bức ảnh.
Lần thứ ba trong ngày, tôi suýt trào nước mắt khi mặc áo len mới cho thằng bé này. Nó mặc một cái áo sơ mi rách, bên ngoài là cái áo khoác cũng rách. Tôi không thể cởi cái áo khoác ra được, vì nó không có cúc, không có khóa, mà được khâu chỉ hai mép áo. Hỏi cô giáo, cô bảo không cởi được đâu, chúng nó mặc thế cả mấy tháng mùa đông, vì chỉ có chừng đó áo thôi. Đành cắn môi, chọn cái áo len to nhất, mặc chùm ra ngoài áo khoác của nó.

Quá nửa bọn trẻ ở đây luôn luôn trong tình trạng “thò lò mũi xanh”, như thằng bé này. Cũng dễ hiểu thôi: trời rét như thế, ăn mặc phong phanh như thế, mũi thò lò còn là chuyện nhỏ, chưa bị sưng phổi còn là may.

Áo mỏng lại ướt, nên mũi thò lò !

Đã 11 giờ, các cháu lớp bé tự xách ghế lên lớp lớn để ăn trưa. Bữa trưa nay chúng được ăn giò, chả, những món ngon dưới xuôi mà có lẽ chúng chưa từng nếm bao giờ. Có lẽ thèm ăn lắm, nhưng tụi nhỏ cứ khoanh tay ngồi chờ, khi nào tất cả các bạn đã có suất ăn, cô nói “Các con ăn nào”, chúng nó mới bắt đầu ăn.

 
Người Hà Nội học làm “hầu bàn”
 
Mỗi bé được cô xúc cho một tô cơm to, thêm 3-4 miếng giò. Những đứa trẻ nhỏ thành thị có khi còn ỷ eo chê thịt mỡ, thịt dai, các bà các mẹ phải nựng lên nựng xuống mới chịu cho bón nửa bát cơm. Còn bọn trẻ con ở đây tự xúc ăn ngon lành, loáng cái đã hết tô, có đứa còn xin thêm cơm.
 
Cơm với gì đây nhỉ? (cháu chưa thấy bao giờ)
 
Món lạ này ngon quá
Trong lúc bọn trẻ Mầm Non ăn ngon lành, tôi tranh thủ ngó kỹ phía ngoài lớp học. Lại thấy đắng lòng vì những cảnh này.
 
Mút tay cho đỡ đói
Bố con Trưởng thôn
Sẵn có mấy túi áo quần dự phòng nói trên, chúng tôi đem ra phát cho bọn trẻ 1-2 tuổi ở ngoài sân, mỗi đứa 1 áo len, 1 đôi tất, 1-2 cái áo quần thun. Số đồ cũ còn lại (khoảng 50-60 thứ, chủ yếu vừa cho trẻ 2-3 tuổi), nhờ các cô chia nốt cho các cháu nhỏ trong bản, hoặc để lại ở lớp, dự phòng cần thay đồ cho các bé, mỗi khi chúng bị ướt.
 
 
 
 
 
Đã 11h30, điện thoại réo, trưởng đoàn thúc giục ra xe để đi tiếp. Chúng tôi vội vàng nhờ các cô làm nốt những việc còn lại: khi bọn trẻ ngủ dậy cho chúng uống thuốc tẩy giun, giữa buổi chiều cho chúng ăn bánh mỳ chấm sữa, … rồi chào chia tay. Cô giáo trẻ đang nói bỗng nghẹn ngào, quay đi, khóc. Vội quá, chúng tôi cũng chưa kịp xin cô số điện thoại.
 
Những tưởng được rời trường trong ánh mắt đưa tiễn hân hoan của bọn nhỏ, của dân bản. Nào ngờ chúng tôi lại bị sốc, khi đi ngang qua và ngó vào mấy lớp Tiểu học bên cạnh. Nào chúng nó có được mặc lành lặn, ăn sung sướng gì hơn mấy đứa em bên Mầm Non cho cam. Vậy mà lần này, chúng tôi chẳng mang được gì đến cho chúng nó. Dốc ngược ba-lô, còn một gói kẹo, đem ra chia cho chúng nó đỡ tủi thân, rồi chúng tôi rời trường, thật nhanh, như chạy trốn khỏi cảm giác đau đớn và bất lực.
 
Chúng cháu học lớp 5 rồi ạ!
Chân trần đến lớp

Trên đường rời Pa Cheo, tôi đã quyết sẽ phải quay lại nơi này, sẽ phải làm gì đó cho bọn Tiểu học, để không bị ám ảnh bởi nỗi xấu hổ trước nụ cười thân thiện, ấm áp và tin cậy thế này đã dành cho chúng tôi.

P/S (07.01.2012; 16h00):
Cách đây ít phút, tôi vừa gọi điện nói chuyện với cô Hải, Mầm Non Tả Lèng. Cô cho biết chiều hôm đó các cô Mầm Non có chia sẻ thức ăn (bánh mỳ, sữa, pate) cho hai lớp Tiểu học cùng nhà với Mầm Non. Còn 3 lớp Tiểu học ở khu nhà khác (cách mấy trăm m) thì chưa đủ để chia :(.
Số quần áo cũ 1-2-3 tuổi chúng tôi để lại, cô cũng đã phân phát hết cho trẻ em trong thôn và một số cháu mẫu giáo bé nhà khó khăn nhất. Dân bản họ biết có áo quần trẻ em, nên đến tận nhà cô giáo để xin, mỗi cháu cũng được 3-4 món nho nhỏ. Cảm thấy chút ấm lòng bạn ơi.

Sàng Ma Sáo

 
 Rời Pa Cheo, nửa vui nửa buồn, đoàn “cơm thịt” đi tiếp đến Sàng Ma Sáo, một xã nghèo ở sâu trong núi, cách Pa Cheo hơn 30 km. Dừng lại ăn trưa ở Mường Hum, một thị trấn nhỏ xíu chỉ có hai dãy phố ngắn ngủn. Thấy có xe khách từ Lào Cai chạy vào đây, vậy là sau này cũng có thể gửi đồ lên Sàng Ma Sáo bằng xe khách. Từ Pa Cheo đến Mường Hum gần 30 km đường nhựa, từ Mường Hum đi Sàng Ma Sáo khoảng 5-6 km đường đất.

Chợ Mường Hum
Từ Mường Hum phải qua hai con ngầm mới đến Sàng Ma Sáo. Mùa này nước cạn, xe qua dễ dàng, nhưng có lẽ vào mùa mưa, lũ kéo về, dòng suối sẽ hung hãn chứ không êm ả thế này. Nghe người dân tộc bảo vào mùa lũ, đang lội qua suối mà thấy nước vẩn đục thì phải chạy cho mau kẻo lũ cuốn trôi.

 
 
Vượt ngầm

Điểm trường chính của Mầm Non Sàng Ma Sáo nằm cạnh đường, sát bên UBND, HDND xã. Vùng này là một thung lũng khá bằng phẳng, với mấy quả đồi, lọt thỏm giữa các ngọn núi cao. Bọn mình đến đó khi các con vừa ngủ trưa dậy, bèn đem bánh mỳ ra cho chúng chấm ăn với sữa đặc. Trông chúng ăn thật ngon lành. Có một thằng bé ăn được chút thì nôn, chắc vì chưa quen sữa đặc. Nhưng nó không rời bàn, cô lau dọn cho xong, nó lại xông vào ăn tiếp.

Con phải xé bánh mỳ chấm sữa thế này này!
 
Trong khi Trưởng Đoàn làm việc với cô Hiệu Trưởng, một nhóm tình nguyện viên theo mấy cô giáo đi xe máy khảo sát các lớp cắm bản, ở trên núi. Số còn lại chơi với trẻ con, hoặc ngắm nghía cơ ngơi của Trường. Phải nói là điểm trường chính khá khang trang, không thua dưới xuôi. Một dãy nhà cấp 4 mới xây, có lớp học cho 25 bé, nhà vệ sinh riêng cho trẻ, có phòng giáo viên, phòng họp. Cạnh đó là một nhà xây cấp 4 với 3 phòng ở của giáo viên. Có bể nước, bếp nấu ăn  trưa cho trẻ mới làm bằng tranh, tre, nứa. Bọn trẻ ở điểm trường này cũng có vẻ tươm tất sạch sẽ hơn so với bọn ở Tả Lèng. Cô giáo nói đây là Trường chính, học sinh chủ yếu con em cán bộ, còn ở các lớp xa, bọn trẻ con thường dân cũng nghèo rách lắm.

Bếp mới dựng, còn chưa mắc điện

Buổi chiều, bọn trẻ con Mầm Non học bài thơ “Anh em mèo trắng – Vác giỏ đi câu …”. Nghe chúng đọc thơ véo von, hơi nghịu chút, thật thích. Rồi tan học, bọn trẻ từng tốp, từng tốp líu ríu kéo nhau ra về. Ở đây, trẻ con 3-4 tuổi cũng tự đi học, tự về, không ai đưa đón. Chúng vừa đi vừa nói chuyện râm ran, vừa đùa nghịch mà nhanh phết. Loáng cái đã thấy mấy đứa đi đầu thấp thoáng trên sườn dốc núi bên kia.

Tan trường

Mấy bạn đi khảo sát ở điểm trường lâu quá, cứ tưởng gần, khoảng 1 giờ là xong, nào ngờ mất hơn 3 tiếng đồng hồ. Nghe cô giáo nói từ trường chính đến lớp cắm bản xa nhất phải hơn 10 km, trong đó có đoạn phải đi bộ leo núi vài km, xe máy ở đó cũng không đi nổi. Lúc mọi người về đông đủ thì trời bắt đầu nhá nhem tối. Lại đổ mưa tầm tã, càng về chiều trời càng rét.

Thật không may, xe của tôi sa lầy ở con dốc ngay cổng trường. Đường hẹp, một bên là ruộng sâu, cả đoàn loay hoay xúm vào hơn một giờ nữa mới kéo được nó lên. Các cô giáo mời đoàn chúng tôi nghỉ lại ở trường. Hai xe nhà Sống Chậm vẫn quyết định quay về Sapa, vì muốn cho các cháu bé nghỉ ngơi được thoải mái. Trưởng đoàn K. vẫn muốn 2 xe còn lại đi tiếp lên Y Tý, nhưng sau khi chiếc xe Innova không vượt nổi con dốc đầu tiên, dựng đứng, trơn tuột vì bùn đất trên núi trôi xuống theo nước mưa, thì chúng tôi quyết định nghỉ lại Sàng Ma Sáo.

 
Xếp bàn làm giường cho đoàn (ảnh: Lana)

Cô Quỳnh hiệu trưởng nhanh nhẹn cử người đi mua đồ về nấu ăn. Các cô giáo thật hiếu khách và chu đáo. Anh K. đưa tiền mua thức ăn, các cô không nhận, nhưng chúng tôi nói nếu không nhận là lần sau chúng tôi không dám lên nữa, các cô phải chịu, hi hi. Các cô dồn 3 phòng làm một, nhường 2 phòng cho 11 người trong đoàn. Chúng tôi thật ái ngại khi giầy dép bê bết bùn đi vào phòng, nhưng dép đi trong nhà không có, bàn chân, dù có tất, tiếp xúc với nền gạch men ẩm ướt lạnh buốt tận óc. Lại nhớ những bàn chân trần của lũ trẻ ngâm trong bùn ở Pa Cheo.

Trong lúc loay hoay kéo điện ra bếp, cô Quỳnh lỡ tay làm vỡ bóng đèn compact, có lẽ là duy nhất của các cô. Thế là chúng tôi nấu ăn trong bóng tối, soi sáng bằng điện thoại di động. Cả bọn xúm bên bếp lửa, hơ những bàn tay lạnh cóng, chia nhau mấy cái xúc xích và 2 củ khoai lang vùi trong than hồng cho đỡ đói chờ cơm. Chúng tôi trở thành bạn bè thân thiết như vậy đó.

 
Sắp được ăn rồi (ảnh: Lana)

Lúc đó mới có thời gian nói chuyện nhiều với các cô giáo. Tất cả các cô đều còn rất trẻ, người lớn nhất cũng 8x, từ nhiều miền quê tới đây. Cô Phúc mới hơn 20 tuổi, quê Thanh Hóa, về trường được hơn một tháng, chỉ con cún nhỏ nằm khoanh tròn xó bếp, bảo: “Ngày nghỉ cuối tuần, các anh chị về nhà hết, chỉ còn mình em với con cún này ở lại trông trường”. Không TV, không internet, nói gì shopping, xi-nê, cafe, kem … với bạn trai. May là có điện, chứ mấy bản trên núi cao còn không có điện. Nghe các “cơm thịt viên” đi khảo sát về kể cảnh đi xe máy đường trơn ngã oành oạch, mới thấy phục các cô giáo hàng ngày vẫn phải lặn lội đến các nhà để xin cho trẻ con đi học, mới thấy dân và bọn trẻ nhỏ ở đây khổ cực chẳng kém gì ở Pa Cheo.

Nghe tin một xe nhà Sống Chậm bị sa lầy trên đường từ Sàng Ma Sáo về Sapa. Nghĩ cảnh đêm tối, mưa, rét, đói, cả nhóm nhà Sống Chậm chỉ có 2 anh lái xe, còn lại gần chục người toàn phụ nữ và trẻ em, đang phải bứt lá, bẻ cành lót bánh xe, cả hội lo lắng bồn chồn, chẳng thiết gì chuyện ăn uống. Nhờ cô Quỳnh liên hệ thuê vài trai bản đi xe máy, mang theo dây, rơm rạ … ra cứu. Chưa kịp đi thì nghe Sống Chậm báo đã cầu viện Pa Cheo, người từ Kin Sáng Hồ đang ra. Hơn 10h tối, mới nghe tin xe thoát lầy, tiếp tục đi Sapa. Thở phào nhẹ nhõm!

Hai căn phòng với 4 cái giường không đủ cho 11 người, 3 bạn trong nhóm leo lên xe, ngả ghế ra ngủ. Gần sáng, trời lại đổ mưa rất to. Kiểu này mai đường trơn lắm đây. Nhưng dù có làm sao thì ban ngày cũng dễ xử lý hơn. Mặc kệ! Ngủ đã!

Tạm biệt Sàng Ma Sáo!

Dền Thàng, Y Tý

 
Sáng hôm sau, 04.01, chuẩn bị khởi hành đi Y Tý, xe tôi lại xẹp bánh sau, chắc bị đá đâm từ hôm qua. Vì phải thay bánh xe dự phòng, chúng tôi khởi hành chậm hơn xe anh K. một lúc. Ngang qua con ngầm bữa trước, lại sa lầy. 5 người xuống xe đẩy, chẳng ăn thua gì, càng cố thoát, xe càng trượt ngang về phía bờ suối. Nhà văn TL phải chạy đi tìm thêm người. May sao có một nhóm gần chục công nhân ở công trường gần đó (hình như là xây dựng trạm thủy điện) ra đẩy xe giúp, chúng tôi mới thoát. Nhập được với đoàn ở Mầm Non Dền Thàng.
 
Mọi chuyện ở các điểm trường Dền Thàng, Y Tý đã được các bạn đồng hành (MTHLanaTL) kể khá chi tiết và ấn tượng. Tôi sẽ chỉ post mấy bức hình, và kể về những chuyện khác.
Ở vùng non cao này nhà cửa thưa thớt, người H’Mông ở tản mát, nhà nọ cách xa nhà kia, toàn cheo leo trên núi. Ở đây rất nhiều thứ làm bằng đá: hàng rào quanh nhà xếp đá, đường rải đá, bờ ruộng cũng xếp đá thành từng khoảnh bậc thang theo sườn núi dốc, có những mảnh vườn (bậc thang nốt) chỉ to như cái chiếu. Tường nhà người H’Mông thường làm bằng đất sét chình rất dày, vững chắc.

 
 
Ruộng bậc thang vào mùa đổ nước

Trời vẫn mưa gần như suốt ngày, khi lất phất, lúc ào ào. Hôm nay còn rét hơn hôm qua, ở Dền Thàng, nhiệt kế trên xe chỉ 5-6 độ C, lên đến Y Tý thì chỉ còn 3-4 độ C, trong xe phải bật quạt sưởi hết công suất. Sương mù khá dày, tôi cứ bám theo đèn hậu xe chạy trước mà đi.

Đến Mầm Non Y Tý lúc mưa to. Bọn trẻ con ngồi co ro trong lớp, hầu hết chúng nó mặc không đủ ấm, chỉ có cái áo khoác mỏng hay cái áo nỉ bên ngoài áo sơ mi. Lớp xốp trải sàn tuy mỏng cũng giúp những bàn chân trần đỡ buốt. Bữa trưa, có tài trợ của chương trình “cơm có thịt”, mỗi bé được cô chia một tô cơm to và khá nhiều trứng chưng trông thật ngon lành.

 
Con đường từ Y Tý trên đỉnh núi cao về thị trấn Bát Xát đã được sửa và nâng cấp, khá tốt, trải nhựa phẳng phiu. Tuy nhiên, đường rất hẹp, hai xe con tránh nhau còn khó. Mấy lần chúng tôi gặp xe tải đi ngược chiều, thật đúng như cảnh hai con dê qua cầu, một xe phải lùi, đến chỗ có lề đường rộng hơn chút, xe kia mới qua được. Có lần, một chiếc xe tải chở nặng đi ngược chiều không chịu tránh về bên mép vực sâu hun hút, chúng tôi phải nhường nó đi sát ta-luy.
Hai con dê qua cầu
Loanh quanh thế nào, chúng tôi bị lạc đường, rẽ nhầm vào con đường đất, chạy hơn 10 km lại thấy quay ra lối cũ. Ở dưới xuôi chạy lạc vài chục cây số không có gì ghê gớm. Với điều kiện không phải con đường như thế này. Bùn đất nhão nhoét và trơn, xe bò lên ì ạch, tiến 3 mét lại lùi một mét.

Xe 7 chỗ cũng bị chạm gầm, mọi người trên xe phải xuống hết cho nhẹ xe, leo bộ ngược lên con dốc cao,  nước mưa cuốn theo bùn đất chảy xối xả.

Vượt qua quãng đường lầy lội ở A Lù, xe đổ dốc đi về hướng Trịnh Tường. Từ trên núi cao, chúng tôi thấy thấp thoáng phía dưới có con đường cao tốc rất hoành tráng, cứ thắc mắc sao ở vùng này cũng có đường to thế. Tới lúc xuống đến bờ sông, có tín hiệu điện thoại, xem bản đồ định vị, mới biết mình đang đứng bên Sông Hồng, và trước mặt là con đường vành đai ở bên kia biên giới.
Lúc đó, trong lòng tôi dấy lên một cảm xúc khó tả: nỗi bồi hồi khi lần đầu đi đến mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, nỗi buồn khi thấy sự tương phản của hai con đường hai bên bờ sông, biên giới tự nhiên của hai nước.
 
Kể lể dông dài những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến đi thực tế, tôi không có ý định “khoe khoang” những sự vất vả của đoàn “cơm có thịt”. Bởi lẽ đơn giản, chút gian truân nho nhỏ không thấm vào đâu so với niềm vui lớn lao, những cảm xúc sâu sắc mà chúng tôi có được. Hơn nữa, những trải nghiệm đó làm chúng tôi cảm thấy mình cứng cáp hơn. Như bé Đ., bé N. đang say xe là vậy mà gặp lúc bí, cũng xuống lội bùn đẩy xe, bẻ cành, xúc cát … lót đường, thế là hết cả say xe.
Chúng tôi ai cũng hiểu rằng mình là những người “đến rồi đi”, nếu có tấm lòng, có điều kiện thì thỉnh thoảng quay lại với các em bé nơi này. Nhưng những người dân, những đứa trẻ ở đây thì khác. Đó là cuộc sống hàng ngày, hàng giờ của họ. Họ không có lựa chọn nào khác là phải chấp nhận, phải chịu đựng cái đói, cái rét, phải đi trên những con đường ngập ngụa bùn đất, phải tìm cách vượt qua dòng suối chảy xiết vào mùa lũ để đi học, đi làm, đi chợ vì nhiều nơi không có cầu, phải sinh hoạt trong bóng tối vì nhiều nơi không có điện, phải kỳ công đắp những thửa ruộng bậc thang cheo leo trên sườn núi vì không có đủ đất canh tác …

Về đến Bát Xát giữa buổi chiều, đoàn chúng tôi chia tay. Một số bạn tình nguyện viên lên tàu đêm từ Lào Cai về Hà Nội, một nhóm đi tiếp lên khảo sát mấy điểm trường ở Mường Khương. Xe nhà tôi 3 người quay về Hà Nội. Tuy không nói ra, nhưng ai cũng cảm thấy như có món nợ với vùng đất này, ai cũng quyết sẽ phải quay lại nơi đây, vì đã đến, đã nghe, đã thấy, và đã để lại một mảnh tim ở vùng cao Tây Bắc.

Đường về

 
Tôi đã định kết thúc Nhật Ký Tây Bắc ở phần viết về Dền Thàng, Y Tý. Nhưng trên đường từ Lào Cai về Hà Nội cũng có vài điều mắt thấy tai nghe, và đôi điều tâm tư muốn chia sẻ.
 
Chia tay các “cơm thịt viên” ở Bát Xát, tôi chạy xe qua Lào Cai, về Hà Nội. Đến Phố Ràng thì trời đã tối mịt, nên gia đình tôi quyết định nghỉ lại đó. Quả thực đi đèo dốc lúc trời tối, lại vào thời điểm các xe tải nặng chạy đầy đường, chẳng thích thú gì.
 
Sáng hôm sau, 05/01, tỉnh táo sau giấc ngủ ngon, chúng tôi lên đường, đi theo Quốc lộ 70. Qua Đoan Hùng, dừng lại nghỉ gần bến phà trên bờ Sông Lô, con sông mà tên tuổi gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp oai hùng. Mua một ít bưởi, vì nghe tiếng bưởi Đoan Hùng từ lâu mà chưa bao giờ có dịp lên đây. Thực ra tôi thấy bưởi Đoan Hùng không ngon bằng bưởi Diễn hay bưởi Năm Roi.
Sông Lô êm ả về xuôi – Con đò nhỏ xíu đưa người qua sông

   

Trong lúc ngồi uống nước ở ngã tư “Cây Gạo”, tôi bắt chuyện với mấy người dân, ngắm nghía mấy dãy phố, và nhìn đoàn người, xe chạy xuống con dốc ra bến phà. Một bác xe ôm bảo: “Cậu chạy theo bờ đê, khoảng 1 km sẽ thấy cầu mới đang xây bắc qua Sông Lô, 300 tỷ đấy cậu ạ, chưa cộng chi phí phát sinh”. Ờ thì đi xem cho biết. Thời gian đang nhiều. Đến nơi, tôi mới hiểu ý bác xe ôm. Chẳng có cái cầu nào hết! Không có điều kiện kiểm chứng con số 300 tỷ và phát sinh bao nhiêu, cũng không phải chuyên gia cầu đường để tính xem 300 tỷ đồng để xây một cái cầu dài khoảng 300m là nhiều hay ít. Nhưng đây là những gì tôi thấy.
Công trường không một bóng người hay bóng máy móc, mặc dù hôm nay là ngày làm việc, cũng không phải giờ nghỉ trưa. Thực ra bên này sông có một cái máy xúc, bên kia sông có một cái xe tải, nhưng đều đứng im như chết. Vài cái trụ cầu bê tông đang làm dang dở, chơ vơ phơi nắng phơi mưa, khoe những lõi sắt gỉ hoen gỉ hoét. Cứ như bỏ hoang! Không biết bỏ hoang từ bao giờ và đến bao giờ! Nhìn trụ cầu nhỏ thế, chắc cầu cũng chẳng phải to tát gì. Không biết bao nhiêu tiền đã chi ra để làm mấy cái trụ dở này! Nhưng bây giờ, người dân ở đây chỉ có cách qua sông bằng phà.
 
Bóng bay ở Pờ Sì Ngài (ảnh: STC)
 
Trên suốt quãng đường về, còn một việc nữa làm tôi suy nghĩ. Đó là tôi không có điều kiện chụp ảnh phân phát cho trẻ em mấy cái áo khoác (đã qua sử dụng, nhưng còn cực tốt) mà những người bạn của một người bạn tôi đã ủng hộ. Khi trao cho tôi, người bạn nhờ tôi chụp hình khi phát túi áo của chị V.A., để “báo cáo” với chị ấy, rằng đồ quyên góp đã đến tay người nhận. Có điều ở Pa Cheo có nhiều điểm trường khác nhau, số áo khoác cũ do nhiều người quyên góp được phân chia cho điểm trường Pờ Sì Ngài, còn nơi tôi phụ trách là Mầm Non Tả Lèng được phát toàn áo khoác mới, nên tôi không có điều kiện chụp hình áo cũ. Tôi chỉ biết chắc chắn rằng, những chiếc áo đó đã được chở lên Pa Cheo phát cho các em bé. Từ bao quần áo cũ định bù đắp thêm cho các bé Mẫu giáo ở Pờ Sì Ngài (vì chúng không được nhận áo khoác mới như các bạn ở điểm trường khác), bạn Sống Thật Chậm còn “phải đếm cấp tốc 43 cái chuyển cho 43 em bé tiểu học Pờ Sì Ngài đang rét tím chân tay, chỗ còn lại đem về điểm trường chính bù cho chỗ thiếu hụt” (vì có một số trẻ Mầm Non mới nhập lớp – ngoài danh sách). Tôi chỉ muốn chị V.A. hiểu rằng, chúng tôi đã làm tất cả, để những chiếc áo ấm mà con trai chị đã mặc và đã giữ gìn rất cẩn thận sạch sẽ, tìm được chủ nhân mới của nó. Những chiếc áo này dày dặn và rất tốt, sẽ không chóng rách đâu. Có thể khi những em bé H’Mông đó lớn lên, những chiếc áo ấm áp tình người sẽ tiếp tục sưởi ấm cho các em của bé. Tôi tin là như vậy, và cũng mong các bạn tin vào điều đó.
Áo ấm đến Pờ Sì Ngài (ảnh: STC)

Tuy có đôi chút áy náy nói trên, và còn cảm thấy nặng lòng với Tiểu học Pa Cheo như tôi đã kể, nhưng chúng tôi đều cảm thấy niềm vui khôn tả khi nhìn những ánh mắt hân hoan, những nụ cười sung sướng của bọn trẻ khi được diện áo mới, ủng mới, mũ mới, được phát đồ chơi … Đối với chúng tôi, đó là một chuyến đi vô cùng thú vị và bổ ích. Chúng tôi học thêm được nhiều điều, mà điều quan trọng nhất là Niềm vui của sự sẻ chia. Chúng tôi cũng nhiều lần rơi lệ vì tận mắt nhìn thấy và đồng cảm với những cảnh nghèo khổ bần cùng. Và chúng tôi cũng vô cùng cảm phục các thầy cô giáo, nhiều người trong số họ từ dưới xuôi lên, trong điều kiện khó khăn thiếu thốn đủ thứ, vẫn sẵn sàng trích một phần tiền lương ra để giúp miếng cơm, miếng thịt cho các em bé, vẫn lặn lội mưa rét đến từng nhà dân xin học trò. Họ làm tất cả để mang “cái chữ” đến cho trẻ em vùng cao. Hy vọng một ngày nào đó, lớp trẻ này lớn lên, có kiến thức, sẽ góp phần làm vùng cao bớt nghèo.

 
Tôi cũng rất mừng vì sau chuyến đi, cậu con trai gầy gò 14 tuổi của tôi trở nên cứng cáp, người lớn hơn, suốt chặng đường về không say xe, mặc dù lúc đi bị say, nằm bẹp. Có thể nói đó là món lời lớn nhất mà tôi nhận được từ gánh hàng xén lên Pa Cheo. Xin cảm ơn bao người bạn đã “góp vốn” vào gánh hàng xén. Xin cảm ơn những người bạn đã đồng hành cùng tôi trong chuyến đi. Và đặc biệt cảm ơn cô chủ gánh hàng xén đã cho tôi cơ hội tham gia và có được những trải nghiệm này. Xin hẹn gặp lại trong những chuyến đi tiếp theo lên Tây Bắc.
Hai mẹ con bên Sông Lô

(Hết)

About trandangtuan

chỉ mong làm được những điều nho nhỏ...
Bài này đã được đăng trong Báo viết ké. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

27 Responses to HAT blog : Nhật ký Tây Bắc

  1. Phạm Ngọc Tiến nói:

    Chuyến đi vất vả quá, mình lại không đi chuyến này. Đọc hiểu hơn gia đình H. Các bạn đã làm được một việc mà không phải ai cũng làm được là cho con cái tham gia vào cuộc hành trình. Sẽ thật tốt lành cho tâm hồn những đứa trẻ.

  2. Nguyen nói:

    Các “bác” đang là những vị bồ tát sống của các bé vùng cao. Cầu chúc cho các bác luôn có nhiều sức khoẻ để tiếp tục công việc tốt đẹp này. Cầu cho mọi người trên thế gian này được an vui hạnh phúc.

  3. Nguyễn Tuấn Dũng nói:

    Hạnh phúc sẻ chia là hạnh phúc bất tận. Cám ơn tấm lòng bồ tát của các bạn. Mong rằng những tấm lòng này càng ngày càng lan tỏa để con cháu vùng cao bớt khổ.

  4. Hai nói:

    Nhìn đứa bé đi ủng không mặc quần đứng của lớp học tôi không cầm được nước mắt.
    rủa mình sao vô cảm thế.

    • HAT nói:

      Từ sau chuyến đi đó, chúng tôi rút kinh nghiệm, mỗi lần đi phải mang theo nhiều đồ ấm dự phòng để phát cho các cháu bé không đi học, hoặc chưa đến tuổi đi học, tức là không có trong danh sách nhà trường thông báo cho đoàn “cơm có thịt”. Đúng như bác Trần Đăng Tuấn nói, các bé Mầm Non và Tiểu học ở những nơi “cơm thịt” đã “phủ sóng” đều được phát áo, ủng trước Tết. Song chúng ta đều biết trên vùng cao vẫn còn nhiều, rất nhiều cháu bé phải chịu đói, rét. Mong lắm những bàn tay chung sức của cộng đồng để “giúp chúng nó”.

  5. Mình rơi nước măt.Cảm phục các bạn và thương các cháu quá

  6. trandangtuan nói:

    Vì biết mọi người sẽ có tâm trạng như thế nên mình đã phải nói trước là đến giờ chúng nó có áo, ủng rồi ( Mầm Non, Tiểu học).

  7. Nguyễn Tiến Mạnh nói:

    Rất trân trọng và cảm phục những gì mà các anh chị và các bạn đã làm. Tội thực sự xúc động khi đọc những dòng chia sẻ cảm xúc trên. Và tôi cũng rất hiểu những vất vả của các anh chi trên những chặng đượng đến với trẻ em vùng cao. Tôi rất hiểu vì đơn giản tôi là Người Miền Núi Tây Bắc.
    Chúc các các anh chị luôn khỏe và làm được nhiều điều vui cho trẻ em các vùng còn nhiều khó khăn.

  8. Lana nói:

    Đọc lại, coi lại hình vẫn chảy nước mắt.
    Hỏi sao mà “đến rồi đi” cho được.

  9. Sông Cấm nói:

    Đọc bài của bạn mình cũng khóc 4 lần. Mong có ngày được tham gia lên đó một chuyến nhưng lại sợ lên rồi khi về sẽ bị ám ảnh rằn vặt mãi thôi, nên đến giờ chỉ còn cách góp một chút với các bác ấy thêm miếng thịt cho các con. Hôm nay đã hết rét hại, ông trời thương đừng có rét nữa.

    • HAT nói:

      “… góp một chút với các bác ấy thêm miếng thịt cho các con …” – đó chẳng phải là cách thiết thực nhất để “giúp chúng nó” sao? Miếng thịt, tấm áo hay quyển sách đều rất quý bạn ạ. Cảm ơn bạn nhiều!

  10. Sapa nói:

    Những gia đình tham gia CƠM THỊT, một cộng đồng mơ ước của đất nước Việt Nam.

  11. vợ chú HAT có câu hỏi giống y hệt vợ cháu, tiếc là đến giờ này cháu vẫn chưa đi được chuyến nào 😦

    • HAT nói:

      Nếu bạn có điều kiện về thời gian và muốn tham gia đi một chuyến, thì ngày 4 tháng 3 có Gánh hàng xén lên Mường Khương và Bát Xát. Chi tiết về chuyến đi bạn có thể xem trên ganhhangxen.wordpress.com. Thân.

  12. Thao PP nói:

    Tôi nghẹn ngào khi đọc những dòng này, thật cảm phục các anh, các chị. Mặc dù không có điều kiện để đi đến với các cháu nhưng sẽ liên hệ để góp một chút ít.

  13. minhnham nói:

    Em thật sự khâm phục các anh chị, vì sự cố gắng, vì tấm lòng của các anh chị với trẻ em vùng cao khó khăn.

  14. ku đen nói:

    Không khóc, sao nước mắt chảy dài mãi thế. Tính tháng sau sẽ góp chút ít thịt phụ được chút nào với bác Tuấn tốt chút ấy, nhưng có lẽ k được rồi, mai phải nghĩ lại ngay thôi.
    Chúc chương trình mãi vươn xa. Chúc các bác/anh chị/em trong “cơm thịt” trẻ mãi k già. Chúc “chúng nó” luôn ấm áp.

    TĐT : Bác ơi, việc giúp đỡ còn dài, chẳng những cơm thịt mà còn nhiều thứ khác. Bác đừng vội, tháng này chưa có điều kiện thì tháng sau bác ạ.

  15. Bạn Cũ nói:

    Tuấn ơi, thật cảm động. Cảm ơn tâm hồn và trái tim đẹp của bạn!

    • HAT nói:

      Hì hì, không biết cm này dành cho chủ blog, anh Trần Đăng Tuấn, hay cho mình đây. Bạn Cũ ơi mình tin chắc rằng tất cả chúng mình, từ anh TDT cho đến các “cơm thịt viên” như mình, đều làm những việc này như là một trách nhiệm, như sự thôi thúc từ lương tâm của những con người bình thường. Cho nên lời khen của bạn khiến chúng mình không khỏi bối rối.
      Thực lòng mà nói, vì cá nhân mình không có điều kiện đóng góp nhiều tiền cho “cơm thịt”, nên tự nguyện làm “người đưa thư”, thay mặt bà con xa gần chuyển chút quà đến tay các em bé ở vùng cao. Nhật ký này như là một sự chia sẻ cảm nhận về chuyến đi, cũng là báo cáo với những “người gửi thư” rằng nhiệm vụ đã hoàn thành.
      Và chúng mình chỉ mong sẽ có thật nhiều “thư” để những “người đưa thư” như mình khỏi thất nghiệp :).

  16. Công Nguyên nói:

    Đọc lại vẫn thấy dưng dưng, ô hay mình là đàn ông mà sao lại thế này, sống mũi cay cay, cổ họng nghẹn cứng, 2 mắt lại nhạt nhòa.

  17. MINH HA nói:

    Tôi đã khóc thực sự khi đọc dòng đầu tiên đến câu cuối của bài nhật ký. Cảm ơn HAT nhiều. Tự thầy mình chưa làm được gì “đời”. Phải làm gì đó thôi… Xin phép HAT coppy bài viết này để đăng trong blog cua mình nhé. Hy vọng có thêm nhiều sự sẻ chia!

  18. lê lan hương nói:

    Đọc bài viết của bạn mà nghẹn ngào.Mình thấy đóng góp vật chất là rất quý nhưng bỏ thời gian,công sức,tâm huyết và cả tiền bạc,vượt mọi khó khăn,vất vả, gian nan để đến tận nơi trao cho các cháu tấm lòng như các bạn thật là cao quý.Sẽ cố gắng để ủng hộ “cơm có thịt’ nhiều hơn nữa để chúng ta cùng mạnh mẽ hơn,dẻo dai hơn, bền chí hơn trong hoạt động này.

    • HAT nói:

      Bạn ơi như mình đã viết, chút vất vả của bọn mình thật sự không thấm vào đâu so với nỗi vất vả của các thầy cô giáo vẫn bám trụ ở núi rừng để mang cái chữ đến cho các em bé, và càng không thể so sánh với nỗi vất vả của người dân ăn đời ở kiếp nơi đây.

  19. Utterly written articles, regards for information. “The last time I saw him he was walking down Lover’s Lane holding his own hand.” by Fred Allen.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s